Cách làm thông thường là đợi công trình hoàn thành, chủ đầu tư lập xong báo cáo quyết toán rồi mới mời kiểm toán. Cách đó hợp với dự án nhỏ, làm trong một hai năm.
Với dự án đường sắt đô thị thì không hợp. Vòng đời tám đến mười lăm năm, hàng chục nghìn chứng từ, phần lớn khối lượng nằm dưới lòng đất. Đợi đến cuối mới kiểm thì nhiều thứ đã không kiểm được nữa.
Kiểm toán song hành nghĩa là kiểm toán viên vào cuộc ngay trong quá trình thi công, làm theo từng đợt — theo giai đoạn hoặc theo gói thầu — và đợt cuối cùng tổng hợp lại thành báo cáo kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành.
Một tuyến metro kéo dài tám đến mười lăm năm. Đợi công trình xong mới bắt đầu kiểm toán thì chứng từ những năm đầu đã mờ, người ký đã chuyển công tác, nhà thầu phụ đã giải thể. Kiểm toán viên không tìm được bằng chứng, mà không có bằng chứng thì không đưa ra ý kiến được.
Cốt thép trước khi đổ bê tông, hệ chống đỡ hầm trước khi lắp vỏ — những thứ này chỉ nhìn được đúng một lần, tại đúng thời điểm thi công. Sau đó dù có muốn cũng không đo lại được. Kiểm toán viên đến sau chỉ còn cách tin vào hồ sơ người khác lập.
Một khoản chi phí thiếu quyết định của cấp có thẩm quyền, nếu phát hiện ngay trong năm phát sinh thì xin bổ sung được. Phát hiện sau bảy năm thì người có thẩm quyền lúc đó đã nghỉ hưu, và người đương nhiệm không dám ký cho việc mình không chứng kiến.
Một dự án nhiều nghìn tỷ có hàng chục nghìn chứng từ. Dồn hết vào một đợt kiểm toán cuối thì riêng khâu sắp xếp hồ sơ đã mất nhiều tháng, chưa nói tới kiểm tra. Chia theo giai đoạn thì mỗi đợt gọn, và đợt sau kế thừa được kết quả đợt trước.
Đây là giá trị lớn nhất. Kiểm toán song hành không chỉ để phát hiện, mà để chủ đầu tư điều chỉnh cách lập hồ sơ ngay từ gói thầu tiếp theo. Một lưu ý ở năm thứ hai tiết kiệm được nhiều tháng ở năm thứ mười.
| Tiêu chí | Kiểm toán sau khi hoàn thành | Kiểm toán song hành |
|---|---|---|
| Thời điểm bắt đầu | Sau khi công trình hoàn thành | Ngay từ giai đoạn thi công, theo từng đợt |
| Cách chia công việc | Một đợt duy nhất, toàn bộ dự án | Nhiều đợt theo giai đoạn hoặc theo gói thầu, đợt cuối tổng hợp |
| Bằng chứng kiểm toán | Chỉ còn hồ sơ giấy, phần khuất không kiểm tra được | Chứng kiến trực tiếp phần sẽ bị che khuất, kiểm kê tại hiện trường |
| Khi phát hiện sai sót | Thường đã quá muộn để bổ sung hồ sơ | Còn thời gian để chủ đầu tư hoàn thiện hoặc xin ý kiến cấp có thẩm quyền |
| Thời gian quyết toán | Kéo dài, vì phải dựng lại hồ sơ nhiều năm trước | Ngắn hơn, vì phần lớn đã được kiểm tra và thống nhất từ trước |
| Chi phí kiểm toán | Thấp hơn trên một hợp đồng, nhưng rủi ro treo hồ sơ cao | Cao hơn tổng cộng, đổi lại giảm rủi ro và rút ngắn quyết toán |
| Phù hợp với | Dự án nhỏ, thời gian thực hiện dưới hai năm | Dự án nhóm A, dự án quan trọng quốc gia, dự án nhiều gói thầu, dự án ODA |
Kiểm toán song hành không thay thế báo cáo kiểm toán cuối cùng. Mỗi đợt cho ra một biên bản làm việc và thư quản lý; đợt cuối mới phát hành báo cáo kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành theo đúng chuẩn mực.
Theo hệ thống chỉ mục của Hồ sơ kiểm toán mẫu Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành. Mỗi phần hành nêu nội dung kiểm tra và điểm cần chú ý.
Chấp nhận khách hàng và đánh giá rủi ro hợp đồng · tìm hiểu dự án và kiểm soát nội bộ · phân tích sơ bộ báo cáo quyết toán · xác định mức trọng yếu và phương pháp chọn mẫu · kế hoạch kiểm toán tổng thể và danh mục tài liệu cần cung cấp.
Đối chiếu danh mục hồ sơ pháp lý với quy định · kiểm tra thẩm quyền phê duyệt · đánh giá việc chấp hành trình tự đầu tư xây dựng, trình tự lựa chọn nhà thầu và việc ký kết hợp đồng.
Kiểm tra số dư và biến động từng loại nguồn vốn · đối chiếu vốn thanh toán giữa chủ đầu tư và cơ quan thanh toán · kiểm tra việc điều chỉnh tăng giảm vốn và cách hạch toán.
Đối chiếu với phương án bồi thường được duyệt · kiểm tra tới quyết định đền bù của cấp có thẩm quyền · bảng tổng hợp thanh toán · chứng từ chi trả và xác nhận của người nhận tiền.
Đối chiếu quyết toán A–B với báo cáo quyết toán · kiểm tra khối lượng và đơn giá theo đúng hình thức giá hợp đồng · đối chiếu biên bản nghiệm thu và hồ sơ quản lý chất lượng · kiểm tra quyết toán phát sinh.
Đối chiếu quyết toán hợp đồng · kiểm tra danh mục, chủng loại, nguồn gốc xuất xứ, chất lượng và cấu hình thiết bị so với dự toán và hợp đồng · kiểm tra quyết toán phát sinh.
Tổng hợp nhập xuất tồn kho · kiểm tra phần nhập gồm khối lượng, chứng chỉ xuất xứ chất lượng, đơn giá · kiểm tra phần xuất lắp đặt vào công trình theo từng nhà thầu.
Đối chiếu với tổng dự toán được duyệt · kiểm tra chi phí do chủ đầu tư tự thực hiện gồm mua sắm và chi phí lương của Ban Quản lý dự án · kiểm tra chi phí do các nhà thầu tư vấn thực hiện.
Hai nhóm: thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng được phép không tính, và chi phí không tạo nên tài sản. Kiểm tra nội dung, giá trị thiệt hại so với quyết định của cấp có thẩm quyền, thẩm quyền của cấp cho phép, biên bản xác nhận và mức bồi thường bảo hiểm.
Tổng hợp tài sản dài hạn và ngắn hạn · chính sách phân bổ chi phí chung · phân loại theo nguồn vốn và đối tượng sử dụng · quyết định điều chuyển và biên bản bàn giao · giá trị còn lại của tài sản Ban Quản lý dự án.
Kiểm tra số dư nợ phải thu và phải trả theo từng nhà thầu · xác nhận số dư bằng thư xác nhận dưới sự kiểm soát của kiểm toán viên · kiểm tra tiền mặt và tiền gửi · kiểm tra nhập xuất tồn vật tư thiết bị tồn đọng và kiến nghị phương án xử lý.
Xem xét việc chấp hành quy định về quản lý đầu tư và xây dựng · chấp hành chế độ kế toán và quyết toán · và việc thực hiện kết luận của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước.
Tổng hợp kết quả kiểm toán và kiểm tra cân đối số liệu · tổng hợp đề nghị điều chỉnh · liệt kê các vấn đề chưa thống nhất · cam kết của chủ đầu tư · biên bản họp với khách hàng · soát xét các cấp · phê duyệt và phát hành báo cáo kiểm toán độc lập kèm thư quản lý.
Đây là hai phép kiểm bắt buộc chạy trên cùng một bộ số. Không cân thì chưa được phát hành báo cáo.
Vừa lập hồ sơ vừa kiểm tra hồ sơ mình lập là mất tính độc lập. Đây là điều cấm, không có biện pháp bảo vệ nào chữa được.
Kiểm toán viên chỉ ra hồ sơ còn thiếu gì, nhưng người lập và ký hồ sơ phải là chủ đầu tư. Làm thay là làm mất ranh giới trách nhiệm.
Thiếu bằng chứng thì nêu rõ là thiếu và nêu ảnh hưởng, chứ không suy đoán để có một con số cho đẹp báo cáo.
Căn cứ Nghị định 193/2026/NĐ-CP ngày 01/6/2026, Điều 20, hiệu lực từ 01/7/2026. Nhập giá trị cần thuê kiểm toán để ra mức phí.
Bảng tỷ lệ này giữ nguyên so với Nghị định 254/2025/NĐ-CP Điều 45 — chúng tôi đã đối chiếu từng con số. Nghị định mới chỉ đổi số điều và bỏ chữ “hoàn thành” khỏi tên gọi.
| Giá trị (tỷ đồng) | ≤ 5 | 10 | 50 | 100 | 500 | 1.000 | ≥ 10.000 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Kiểm toán độc lập (%) | 0,96 | 0,645 | 0,45 | 0,345 | 0,195 | 0,129 | 0,069 |
| Thẩm tra, phê duyệt (%) | 0,57 | 0,39 | 0,285 | 0,225 | 0,135 | 0,09 | 0,048 |
Giá trị nằm giữa hai mốc thì nội suy tuyến tính theo công thức tại điểm a
khoản 1 Điều 20: Ki = Kb − (Kb − Ka) × (Gi − Gb) ÷ (Ga − Gb).
Máy tính ở trên đã làm sẵn phép này.
Một — đây là mức TỐI ĐA, không phải mức phải trả. Giá gói thầu có thể thấp hơn,
và thực tế đấu thầu thường thấp hơn.
Hai — phí kiểm toán tối thiểu 1 triệu đồng cộng thuế; phí thẩm tra tối thiểu
500 nghìn đồng.
Ba — phí kiểm toán cộng thuế giá trị gia tăng; phí thẩm tra thì không.
Bốn — con số này là căn cứ lập dự toán gói thầu. Phí thực tế của một hợp đồng
còn phụ thuộc khối lượng hồ sơ, số gói thầu, địa bàn và thời gian thực hiện.
Định mức tính trên giá trị cần thuê kiểm toán của cả dự án, không phải cộng dồn từng đợt. Chia thành nhiều đợt là cách tổ chức công việc, không phải cách nhân phí lên.
Trên thực tế, tổng chi phí của phương án song hành thường cao hơn mức định mức một đợt, vì khối lượng công việc thực sự nhiều hơn — nhiều lần vào hiện trường, nhiều biên bản làm việc. Phần chênh đó hai bên thoả thuận trong hợp đồng và phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Việc chọn kiểm toán sau khi hoàn thành hay kiểm toán song hành phụ thuộc quy mô, thời gian thực hiện và số gói thầu của dự án. Gửi thông tin qua trang Tư vấn, chúng tôi nêu ý kiến về phương án phù hợp và khối lượng công việc dự kiến.